Bảng quy đổi nhiệt độ
Đổi giữa Celsius, Fahrenheit, Kelvin và Rankine cùng lúc, kèm nấc ga của lò nướng, mốc thân nhiệt tham khảo và bảng quy đổi để in.
20 °C là 68 °F, 293.15 K và 527.67 °R.
Bảng quy đổi để in
Bảng quy đổi nhiệt độ, từ -40 đến 100 Celsius
| Celsius (°C) | Fahrenheit (°F) | Kelvin (K) | Rankine (°R) |
|---|---|---|---|
| -40 | -40 | 233.15 | 419.67 |
| -35 | -31 | 238.15 | 428.67 |
| -30 | -22 | 243.15 | 437.67 |
| -25 | -13 | 248.15 | 446.67 |
| -20 | -4 | 253.15 | 455.67 |
| -15 | 5 | 258.15 | 464.67 |
| -10 | 14 | 263.15 | 473.67 |
| -5 | 23 | 268.15 | 482.67 |
| 0 | 32 | 273.15 | 491.67 |
| 5 | 41 | 278.15 | 500.67 |
| 10 | 50 | 283.15 | 509.67 |
| 15 | 59 | 288.15 | 518.67 |
| 20 | 68 | 293.15 | 527.67 |
| 25 | 77 | 298.15 | 536.67 |
| 30 | 86 | 303.15 | 545.67 |
| 35 | 95 | 308.15 | 554.67 |
| 40 | 104 | 313.15 | 563.67 |
| 45 | 113 | 318.15 | 572.67 |
| 50 | 122 | 323.15 | 581.67 |
| 55 | 131 | 328.15 | 590.67 |
| 60 | 140 | 333.15 | 599.67 |
| 65 | 149 | 338.15 | 608.67 |
| 70 | 158 | 343.15 | 617.67 |
| 75 | 167 | 348.15 | 626.67 |
| 80 | 176 | 353.15 | 635.67 |
| 85 | 185 | 358.15 | 644.67 |
| 90 | 194 | 363.15 | 653.67 |
| 95 | 203 | 368.15 | 662.67 |
| 100 | 212 | 373.15 | 671.67 |
29 dòng. Các giá trị được làm tròn tới hai chữ số thập phân.
Các thang đo liên hệ với nhau thế nào
Celsius và Fahrenheit đều được định nghĩa bằng điểm đóng băng và điểm sôi của nước, chỉ khác ở con số họ gán cho chúng: 0 và 100 so với 32 và 212. Nghĩa là 100 độ Celsius phủ cùng một khoảng với 180 độ Fahrenheit, và đó là chỗ mà 9/5 trong công thức xuất hiện, còn số 32 chỉ là độ lệch giữa hai điểm không. Kelvin dùng độ có cùng kích thước với Celsius nhưng bắt đầu từ độ không tuyệt đối thay vì từ điểm đóng băng, nên nó luôn chỉ là một phép cộng 273,15. Rankine làm với Fahrenheit đúng việc mà Kelvin làm với Celsius. Mọi phép đổi trên trang này đều đưa giá trị về Celsius trước rồi mới đưa ra lại, nên bốn đáp số không bao giờ mâu thuẫn với nhau.
°F = °C × 9/5 + 32°C = (°F − 32) × 5/9K = °C + 273.15°R = °F + 459.67Nhiệt độ lò và nấc ga
Các vạch trên lò là một trường hợp riêng, vì chúng không phải phép đổi chính xác và vốn cũng không nhằm như vậy. Cột Fahrenheit tăng đều tăm tắp 25 một, suốt từ nấc ga 1 đến nấc 9, trong khi cột Celsius bỏ qua 160 và 210 để giữ cho số của chính nó tròn trịa. Vì thế hai cột tách ra rồi lại xích gần: nấc ga 1 in trên núm là 140 °C và 275 °F trong khi 140 °C thật ra là 284 °F, còn khoảng chênh lớn nhất nằm ở nấc ga 3, ghi 170 °C và 325 °F trong khi 170 °C thực chất là 338 °F. Mười ba độ Fahrenheit chẳng làm cái bánh khác đi chút nào, nên chưa ai buồn chỉnh hai cột cho khớp. Cột quạt là cùng mức đó trên lò có quạt hay lò đối lưu, chạy thấp hơn khoảng 20 °C cho cùng kết quả, vì không khí chuyển động truyền nhiệt hiệu quả hơn.
| Nấc ga | Lò thường (°C) | Lò có quạt (°C) | Fahrenheit (°F) |
|---|---|---|---|
| 1/4 | 110 | 90 | 225 |
| 1/2 | 120 | 100 | 250 |
| 1 | 140 | 120 | 275 |
| 2 | 150 | 130 | 300 |
| 3 | 170 | 150 | 325 |
| 4 | 180 | 160 | 350 |
| 5 | 190 | 170 | 375 |
| 6 | 200 | 180 | 400 |
| 7 | 220 | 200 | 425 |
| 8 | 230 | 210 | 450 |
| 9 | 240 | 220 | 475 |
Thân nhiệt, và con số 98,6 từ đâu ra
Con số quen thuộc 98,6 °F không phải là một phép đo, mà là một phép đổi. Bác sĩ người Đức Carl Wunderlich công bố 37 °C làm giá trị trung bình vào năm 1868, và đổi sang Fahrenheit thì ra đúng 98,6, thế là một con số đã làm tròn bỗng có thêm chữ số thập phân mà nó chưa bao giờ xứng đáng. Các nghiên cứu hiện đại quy mô lớn hơn đặt mức trung bình gần 36,6 °C (97,9 °F) hơn, và ở mỗi người con số này dao động khoảng nửa độ trong ngày, thấp nhất vào sáng sớm. Số đo còn phụ thuộc nơi đo: miệng và nách cho kết quả thấp hơn tai hay hậu môn. Ngưỡng thường dùng để nói là sốt là 38 °C (100,4 °F) và hạ thân nhiệt bắt đầu dưới 35 °C (95 °F), nhưng đây là con số tham khảo chứ không phải chẩn đoán; điều gì khiến bạn lo thì nên hỏi bác sĩ.
Kelvin và Rankine, hai thang tuyệt đối
Kelvin là đơn vị SI và được viết là 295,15 K, không có ký hiệu độ và không bao giờ gọi là độ Kelvin, bởi đơn vị chính là kelvin chứ không phải độ của cái gì cả. Nó bắt đầu từ độ không tuyệt đối, điểm mà không còn năng lượng nhiệt nào để lấy đi nữa, nên một giá trị kelvin âm không phải là nhiệt độ lạnh mà là nhiệt độ không thể có. Từ năm 2019, kelvin được định nghĩa bằng cách cố định giá trị hằng số Boltzmann chứ không dựa vào tính chất của nước nữa. Rankine là cùng ý tưởng đó áp cho Fahrenheit: khởi đi từ độ không tuyệt đối và đếm bằng độ cỡ Fahrenheit, tức chỉ là Fahrenheit cộng 459,67, và nó vẫn còn xuất hiện trong một phần ngành kỹ thuật ở Hoa Kỳ.
Đáng để biết
- Hai thang dùng hằng ngày cắt nhau ở âm 40, nhiệt độ duy nhất mang cùng một con số ở cả Celsius lẫn Fahrenheit.
- Muốn nhẩm Celsius sang Fahrenheit thì nhân đôi rồi cộng 30. Lệch vài độ, nhưng nói chuyện thời tiết thì đủ.
- Độ không tuyệt đối là âm 273,15 °C, âm 459,67 °F và 0 K, và trang này không cho bạn xuống thấp hơn thế.
- Chênh 1 °C là chênh 1,8 °F, nên tăng hai độ Celsius là gần bốn độ Fahrenheit.
- Bảng in ra một mình, không kèm phần còn lại của trang, nên có thể dán thẳng lên tủ lạnh hoặc kẹp vào tập công thức nấu ăn.