Tính pH

Chuyển đổi giữa pH, pOH, nồng độ ion hydro và hydroxit, hoặc tìm pH của axit và bazơ, loại mạnh hay yếu, từ nồng độ cùng giá trị Ka của nó.


Nồng độ tính bằng mol/L. Ký hiệu khoa học dùng được, nên 1.75e-50.0000175 là một. Ka và Kb chỉ áp dụng cho hai lựa chọn chất yếu; chuyển ô cuối sang pK để nhập 4,76 thay thế.
pH
2.88
Có tính axit
pOH
11.12
[H+] mol/L
1.31 × 10−3
[OH] mol/L
7.61 × 10−12
02468101214

Axit yếu. Giải trọn vẹn x² + Kax − KaC = 0, không giả định x nhỏ, nên kết quả vẫn đúng ngay cả khi axit điện li nhiều.

Ở nồng độ này, axit hoặc bazơ điện li 1.31%.

pH đo cái gì

pH là logarit cơ số mười của nồng độ ion hydro lấy dấu âm, tức pH = −log10[H+]. Vì là logarit nên mỗi bậc nguyên ứng với mười lần: pH 3 có tính axit gấp mười lần pH 4 và gấp một trăm lần pH 5. Trong nước tinh khiết ở 25 °C, [H+] và [OH] đều bằng 1,0 × 10−7 mol/L, và con số trung tính quen thuộc 7 bắt nguồn từ đó. Số 7 ấy không phải hằng số phổ quát; nó đến từ tích số ion của nước Kw ở nhiệt độ phòng, và sẽ dịch chuyển nếu nhiệt độ thay đổi.

pH, pOH và hai nồng độ

Bốn đại lượng này là một con số mang bốn gương mặt. Cho bất kỳ một trong số đó, ba cái còn lại suy ra từ pH + pOH = 14[H+][OH] = Kw = 1,0 × 10−14. Bốn lựa chọn đầu trong trình đơn làm đúng việc đó. pH bằng 3,4 cho pOH 10,6, nồng độ ion hydro 4,0 × 10−4 mol/L và nồng độ hydroxit 2,5 × 10−11 mol/L, và phép tính chạy như nhau dù bạn bắt đầu từ đầu nào.

Axit mạnh và bazơ mạnh

Axit mạnh điện li hoàn toàn, nên dung dịch axit clohydric 0,01 mol/L cho 0,01 mol/L ion hydro và pH bằng 2. Lối tắt pH = −log10C chạy tốt đến khoảng 10−6 mol/L rồi hỏng một cách lặng lẽ: nó bảo HCl 10−8 mol/L có pH bằng 8, tức là biến một axit thành bazơ. Công cụ này giải cân bằng đầy đủ, gồm cả ion hydro do chính nước sinh ra, và cho pH 6,98, hơi có tính axit, đúng như lẽ ra phải vậy.

Axit yếu và bazơ yếu

Axit yếu chỉ điện li một phần, và đi được bao xa là do hằng số điện li axit Ka quyết định. Từ cân bằng ta có x² + Kax − KaC = 0, trong đó x là nồng độ ion hydro. Sách giáo khoa thường bỏ số hạng ở giữa và dùng x = √(KaC), đủ sát khi độ điện li còn dưới khoảng 5 phần trăm, và lệch thấy rõ khi vượt quá. Công cụ này giải trọn phương trình bậc hai và còn cho biết phần trăm đã điện li, để bạn tự xét xem phép gần đúng có trụ được không. Nhập Ka dưới dạng số, chẳng hạn 1,75 × 10−5, hoặc chuyển ô cuối sang pK rồi gõ 4,76.

Nên biết

  • pH là logarit, nên chênh một đơn vị là chênh mười lần về độ axit, không phải một bước nhỏ.
  • Điểm trung tính bằng 7 chỉ ở 25 độ C; trong nước ở 100 độ nó tụt xuống khoảng 6,14.
  • pH dưới 0 và trên 14 hoàn toàn có thật, chỉ là cần dung dịch rất đậm đặc.
  • Mạnh nghĩa là điện li hoàn toàn, không phải nguy hiểm. Axit flohydric là axit yếu nhưng vẫn ăn mòn rất mạnh.
  • Không có gì được lưu lại. Phép tính chạy trên máy chủ của chúng tôi và kết quả bị hủy sau khi gửi đi.

Câu hỏi thường gặp

Lấy logarit cơ số mười của nồng độ ion hydro tính bằng mol/L rồi đổi dấu, tức pH = −log10[H+]. Nếu bạn có nồng độ chất chứ không phải nồng độ ion, hãy chọn một mục tính từ dung dịch; công cụ sẽ tìm [H+] trước, có tính đến sự điện li.

Trên khoảng 10−6 mol/L thì đơn giản là pH = −log10C, vì axit mạnh điện li hoàn toàn. Dưới mức đó, nước góp đủ ion hydro của chính nó để phải kể đến, nên công cụ dùng dạng chính xác [H+] = (C + √(C² + 4Kw)) / 2.

Nâng mười lên lũy thừa âm pH: [H+] = 10−pH. pH 4,5 là 3,2 × 10−5 mol/L. Chọn pH trong trình đơn thì cả bốn đại lượng trả về cùng lúc.

pOH là cùng ý tưởng áp dụng cho hydroxit: pOH = −log10[OH]. Ở 25 độ C hai giá trị luôn cộng lại bằng 14, vì tích của hai nồng độ được ấn định ở Kw = 1,0 × 10−14. Vậy pH 9,2 tương ứng pOH 4,8.

Axit mạnh nhường gần như toàn bộ proton, nên nồng độ ion hydro bằng đúng nồng độ của nó. Axit yếu thì đạt tới một cân bằng và chỉ một phần điện li. Phần đó do Ka quyết định, và đó là lý do axit yếu cần thêm một con số nữa trước khi tính được pH.

Có. Khoảng từ 0 đến 14 là quy ước cho dung dịch loãng, không phải giới hạn. Axit clohydric đậm đặc 12 mol/L có pH quanh −1,1, còn natri hydroxit đậm đặc vượt 15. Công cụ này nhận cả giá trị ngoài khoảng thông thường và chỉ ghim chúng vào đầu mút của thanh thang đo.

Vì x = √(KaC) bỏ đi một số hạng. Nó giả định lượng điện li là nhỏ so với nồng độ ban đầu, một giả định tốt khi độ điện li còn dưới khoảng 5 phần trăm. Công cụ này giải trọn phương trình, nên với dung dịch loãng của một axit yếu khá mạnh nó sẽ cho số thấp hơn đôi chút. Phần trăm đã điện li được hiển thị để bạn xét xem phép gần đúng có an toàn hay không.

Chỉ ở 25 độ C. Trung tính nghĩa là [H+] bằng [OH], và điểm đó nằm ở một nửa của pKw. Vì Kw tăng theo nhiệt độ, nước trung tính ở 100 độ có pH gần 6,14 mà vẫn là trung tính. Công cụ này dùng giá trị ở 25 độ xuyên suốt, đúng như giả định chuẩn trong bài tập.

Tính pH như thế nào?

pH là −log10[H+], và pH + pOH = 14. Máy tính này chuyển đổi giữa pH, pOH, [H+] và [OH], đồng thời tìm pH của axit hoặc bazơ, mạnh hay yếu, từ nồng độ, giải trọn phương trình axit yếu và cho biết phần trăm đã điện li.